Kiến thức

CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU

CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Định nghĩa sức khỏe

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh tật hoặc ốm yếu.

Khỏe mạnh là trạng thái của một người có đầy đủ các yếu tố sức khỏe sau:

- Sức khỏe thể lực (Physical health): đây là yếu tố cần thiết nhất của sức khỏe, liên quan đến những chức năng cơ học của cơ thể.

- Sức khỏe tâm thần (Mental health): khả năng suy nghĩ sáng sủa, rõ ràng, mạch lạc và kiên định.

- Sức khỏe cảm xúc (Emothional health): khả năng cảm nghĩ, xúc động và sợ hãi, thích thú, vui buồn, tức giận và khả năng thể hiện các cảm nhận đó một cách thích hợp; đồng thời cũng là khả năng đương đầu với các stress, sự căng thẳng, nỗi thất vọng và lo lắng.

- Sức khỏe xã hội (Social health): khả năng tạo lập và duy trì mối quan hệ lành mạnh với những người khác trong xã hội.

- Sức khỏe tâm linh (Spiritual health): ở một số người yếu tố này liên quan đến niềm tin, tín ngưỡng; một số người khác liên quan đến niềm tin của cá nhân, các nguyên tắc liên quan đến hành vi thực hành để đạt được sự thoải mái về tâm linh.

- Sức khỏe môi trường xã hội (Societal health): môi trường không đáp ứng được các nhu cầu cơ bản về thể lực và tâm hồn, con người không thể được coi là khỏe mạnh.

1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe

Theo Wallace (1991), có 4 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sức khỏe:

- Các yếu tố di truyền.

- Các yếu tố môi trường: môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội.

- Các yếu tố về chăm sóc sức khỏe: Chất lượng chăm sóc sức khỏe, khả năng sẵn có, hoạt động sử dụng các cơ sở y tế...

- Hành vi cá nhân: chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể, nghỉ ngơi, thói quen nghiện hút, tình dục.

Xã hội hiện đại, văn minh  lấy con người khỏe mạnh làm mục tiêu phục vụ. Con người đồng thời cũng là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng xã hội văn minh; vì vậy sức khỏe của con người bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố:

1.3. Chăm sóc sức khỏe ban đầu

Chăm sóc sức khỏe ban đầu là những chăm sóc sức khỏe thiết yếu, bằng các phương pháp và kỹ thuật thực hành có cơ sở khoa học, có thể tới được mọi người, mọi gia đình trong cộng đồng, được họ chấp nhận và tích cực tham gia, với mức chi phí mà nhân dân và Nhà nước có thể cung ứng được, phát huy được tính tự lực, tự quyết của mọi người dân.

Những chăm sóc thiết yếu chính là những chăm sóc cơ bản cho sức khỏe, có thể tới được mọi người dân, nơi họ đang sinh sống, phù hợp với nền kinh tế của người dân, của đất nước và được người dân chấp nhận, tích cực tham gia.

Nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu không hoàn toàn giống nhau ở các nước. Trong cùng một nước, cùng một thời điểm chăm sóc sức khỏe ban đầu nhưng lại khác nhau ở các vùng, miền.

Nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu cần được thay đổi theo thời gian, thay đổi theo hoàn cảnh để phù hợp với tình hình sức khỏe kinh tế, xã hội của nhân dân, địa phương và Nhà nước.

1.4. Bốn nguyên tắc cơ bản của chăm sóc sức khỏe ban đầu

- Tiếp cận rộng rãi và phổ cập các nhu cầu cơ bản: Đây là nguyên tắc nền tảng của chăm sóc sức khỏe ban đầu. Mọi người dân trên thế giới được tiếp cận với những chăm sóc y tế hiện có để đảm bảo có sức khỏe đầy đủ.

- Sự tham gia và tự lực của cá nhân và cộng đồng: Yếu tố chìa khóa để đạt được sự tham gia và tự lực của cá nhân và cộng đồng là giáo dục, xây dựng ý thức trách nhiệm của mỗi người với sức khỏe của chính mình và của mọi người.

- Phối hợp liên ngành trong chăm sóc sức khỏe ban đầu: Ngành Y tế đóng vai trò chính, phải phối hợp với các ngành khác như giáo dục, công nghiệp, nông nghiệp, du lịch thể thao..., phối hợp với các tổ chức xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, với chính quyền địa phương để đạt được hiệu quả cao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.

- Kỹ thuật thích ứng, hiệu quả chi phí trong khuôn khổ nguồn lực có sẵn: Dựa vào thực trạng tại địa phương để đưa ra những kỹ thuật chăm sóc cho phù hợp, hiệu quả và huy động được sự tham gia tích cực của cộng đồng.

- Những kỹ thuật thích ứng, sử dụng nguồn kinh phí, nhân lực y tế có hiệu quả từ trung ương đến địa phương sao cho đa số người dân được hưởng.

2. NỘI DUNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU

2.1. Nhận thức về chăm sóc sức khỏe

Hội nghị Alma Ata đã đưa ra nhận thức mới về chăm sóc sức khỏe, từ đó dẫn đến những thay đổi về nội dung chăm sóc sức khỏe, đối tượng chăm sóc sức khỏe và trách nhiệm của người cán bộ y tế, vai trò của từng người, từng ban ngành trong xã hội trong sự nghiệp bảo vệ, nâng cao sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng.

So với nhận thức về chăm sóc sức khỏe trước kia, nhận thức mới có những điểm khác biệt cơ bản.

2.2. Nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu - Tuyên ngôn Alma Ata năm 1978

Nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu gồm 8 điểm (Elements):

- Giáo dục sức khỏe (Education).

- Kiểm soát các bệnh dịch tại địa phương (Local disease control).

- Chương trình tiêm chủng mở rộng (Expanded program of immunifation).

- Bảo vệ bà mẹ trẻ em - kế hoạch hóa gia đình (MCH and family planing).

- Cung cấp thuốc thiết yếu (Essential drugs).

- Cung cấp lương thực, thực phẩm và cải thiện bữa ăn (Nutrition and food suply).

- Điều trị và phòng bệnh (Treatment and prevention).

- Cung cấp nước sạch và thanh khiết môi trường (Safewater and sanitation).

2.3. Nội dung 10 điểm về chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt Nam

Nước ta chấp nhận nội dung 8 điểm của tuyên ngôn Alma Ata. Dựa vào thực trạng tình hình sức khỏe, bệnh tật của nhân dân và thực trạng kinh tế, xã hội Việt Nam; chăm sóc sức khỏe ban đầu được bổ sung thêm 2 điểm:

- Quản lý sức khỏe.

- Kiện toàn mạng lưới y tế.

2.3.1. Giáo dục sức khỏe

a. Mục tiêu

- Phổ cấp kiến thức y học thường thức về bảo vệ sức khỏe cho toàn dân.

- Để mọi người dân nhận thức được chăm sóc sức khỏe ban đầu là trách nhiệm của mọi người và của toàn xã hội.

b. Nội dung

- Phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương (tình hình bệnh tật, vấn đề ưu tiên, triển khai các chương trình y tế...).

- Tôn trọng các nguyên tắc giáo dục.

- Phong phú về hình thức giáo dục (nghe, nhìn, làm mẫu...).

- Tổ chức, động viên được các đoàn thể, các tổ chức, mọi đối tượng cùng tham gia.

2.3.2. Kiểm soát các bệnh dịch lưu hành ở địa phương

- Khống chế và tiến tới thanh toán ở các mức độ khác nhau một số bệnh dịch lưu hành như dịch tả, dịch hạch...

- Phòng chống một số bệnh truyền nhiễm: sốt rét, AIDS, bệnh xã hội.

- Giảm tỷ lệ mặc bệnh cấp tính: tiêu chảy, lỵ, nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp.

- Quản lý theo dõi các bệnh mãn tính: bệnh phong, lao, tâm thần, động kinh, bướu cổ...

2.3.3. Chương trình tiêm chủng mở rộng

Mục tiêu đề ra là 100% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng đủ 7 bệnh truyền nhiễm: lao, bạch hầu, uốn ván, ho gà, bại liệt, sởi, viêm gan virus B và 90% trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm phòng nhắc lại.

2.3.4. Bảo vệ bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình

- Giảm tỷ lệ tăng dân số một cách thích hợp: Mỗi gia đình có kế hoạch sinh đẻ cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của mình, nhằm bảo đảm cho gia đình hạnh phúc, phồn vinh, nuôi con khỏe, dạy con ngoan, các con được đến trường học.

- Giảm tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 1 tuổi xuống còn 300/00 vào năm 2005; 250/00 vào năm 2010.

- Tăng cường dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em.

2.3.5. Cung cấp thuốc thiết yếu

Cung cấp thuốc thiết yếu là cung cấp đủ thuốc cho công tác phòng bệnh, chữa bệnh từ tuyến xã đến tuyến tỉnh, đẩy mạnh sản xuất thuốc trong nước, giảm nhập thuốc.

- Lập kế hoạch sử dụng thuốc và dự trữ thuốc một cách thích hợp dựa trên mô hình sức khỏe và bệnh tật.

- Tìm vốn để quay vòng thuốc, mở quầy thuốc.

- Tổ chức xây dựng và kiểm tra túi thuốc của y tế thôn bản, y tế tư nhân, nguồn thuốc trong địa phương, đề phòng thuốc giả, thuốc hỏng...

- Đảm bảo đủ thuốc tối thiểu cần thiết và thuốc chủ yếu.

- Hướng dẫn và kiểm tra sử dụng thuốc an toàn, hợp lý.

- Tuyên truyền hướng dẫn kiểm tra, chế biến và sử dụng thuốc nam ở cộng đồng.

- Quản lý tốt thuốc và trang bị y tế.

 

2.3.6. Cung cấp lương thực - thực phẩm và cải thiện bữa ăn

Những hoạt động liên ngành nhằm mục tiêu cải thiện bữa ăn đủ năng lượng, đủ chất lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày cho từng đối tượng. Chú ý tăng cường thực phẩm giàu chất đạm cho trẻ em và phụ nữ có thai.

2.3.7. Điều trị và phòng bệnh

- Giải quyết tốt các bệnh thường gặp.

- Xử lý tốt các bệnh cấp tính, cấp cứu chuyên khoa.

- Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh theo hướng quản lý tại cộng đồng.

- Giáo dục sức khỏe cho cộng đồng nhằm ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm, lây truyền, các bệnh gây thành dịch và các bệnh xã hội.

2.3.8. Cung cấp nước sạch và thanh khiết môi trường

- Tuyên truyền giáo dục sử dụng nước sạch, sử dụng nhà tắm, hố xí hợp vệ sinh; xử lý nước thải, phân, rác đúng quy trình kỹ thuật.

- Tổ chức phối hợp liên ngành trong việc thực hiện vệ sinh công cộng; thực hiện phong trào 3 diệt: diệt ruồi, diệt muỗi, diệt chuột.

- Lập kế hoạch xây dựng hướng dẫn sử dụng và bảo quản 3 công trình vệ sinh: nhà xí, nhà tắm, giếng nước.

2.3.9. Quản lý sức khỏe

Quản lý sức khỏe là biện pháp chăm sóc sức khỏe ban đầu chủ động, tích cực, đồng thời là sự tổng hợp của nhiều biện pháp chăm sóc y tế của xã hội, cần có sự phối hợp liên ngành, đa ngành.

Mục tiêu của quản lý sức khỏe: hạ thấp tỉ lệ bệnh tật, tàn phế và tử vong, nâng cao sức khỏe cho nhân dân.

- Đối tượng của quản lý sức khỏe: là người dân từ lúc mới sinh cho đến lúc chết.

- Phương châm quản lý sức khỏe:

+ Khám sức khỏe định kỳ để chủ động phát hiện bệnh và điều trị kịp thời.

+ Lập hồ sơ sức khỏe cá nhân, ghi chép đầy đủ tình trạng sức khỏe, bệnh tật của bệnh nhân để theo dõi và có biện pháp điều trị, chăm sóc phù hợp, kịp thời.

+ Phổ biến kiến thức y học thường thức để người dân có thể tự cấp cứu cho nhau khi cần thiết.

+ Củng cố mạng lưới Hội chữ thập đỏ ở cơ sở.

+ Khám bệnh toàn diện khi bệnh nhân đến cơ sở y tế không bỏ sót các bệnh kèm theo.

+ Khám chuyên khoa để phát hiện các bệnh hàng loạt như lao, mắt hột, bệnh phong, bệnh phụ khoa, bướu cổ...

2.3.10. Kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở

Kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở là mối quan tâm hàng đầu của ngành Y tế Việt Nam, là biện pháp quan trọng nhất để bảo đảm cho các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu khác thành công.

a. Mục tiêu

- Mỗi xã có một trạm y tế, khu vực có phòng khám đa khoa.

- 100% cán bộ y tế vào biên chế Nhà nước.

- Có đủ lượng cán bộ y tế cần thiết với qui mô 1/1000 - 3000 dân, với cơ cấu 1 trạm trưởng chuyên khoa y tế cộng đồng, 1 y sĩ về y học cổ truyền, 1 nữ hộ sinh biết chăm sóc trẻ em và y học xã hội.

b. Nội dung

- Hoạt động của trạm y tế phải được đổi mới theo hướng thực hiện các chương trình y tế.

- Cán bộ y tế cơ sở được đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu mới của công tác:

+ Biết chuẩn đoán cộng đồng và xác định vấn đề ưu tiên.

+ Xác định được nhu cầu của y tế cơ sở.

+ Phân tích nguyên nhân vấn đề y tế dựa trên điều tra cộng đồng tại địa phương đang công tác.

+ Biết lập kế hoạch y tế theo năm, quý, tháng.

+ Biết tổ chức thực hiện kế hoạch.

+ Biết đánh giá kết quả thực hiện.

+ Biết ý nghĩa, cách tính toán và viết báo cáo về 25 chỉ số thống kê cơ bản ở tuyến y tế cơ sở.

3. NỘI DUNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU CHO TRẺ EM (GOBIFFF)

Tổ chức quỹ Nhi đồng thế giới (UNICEF) dựa vào tình hình sức khỏe, bệnh tật hiện nay của trẻ em ở các nước đang phát triển đã đề ra 7 ưu tiên cho trẻ em:

- Biểu đồ tăng trưởng (Growth chart).

- Bù nước bằng đường uống (Oral rehydration).

- Nuôi con bằng sữa mẹ (Breast feeding).

- Tiêm chủng mở rộng (Immunization).

- Kế hoạch gia đình (Family planing).

- Giáo dục kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ (Femal education).

- Cung cấp thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em (Food supply).

Thực hiện 7 ưu tiên trên để giải quyết các vấn đề sau:

- Giải quyết các bệnh có tỉ lệ tử vong cao: suy dinh dưỡng, tiêu chảy, các bệnh truyền nhiễm, các bệnh đường hô hấp.

- Bảo vệ bà mẹ và trẻ em bằng các biện pháp:

+ Kế hoạch hóa gia đình.

+ Nâng cao hiểu biết cho bà mẹ về cách nuôi con, vệ sinh dinh dưỡng.

+ Ưu tiên thực phẩm cho bà mẹ, trẻ em.

Biểu đồ tăng trưởng là nội dung ưu tiên hàng đầu, là biện pháp chủ yếu để theo dõi, phát hiện, phòng chống và thành toán bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi. Việc theo dõi bắt đầu từ khi trẻ còn nằm trong bụng mẹ bằng cách theo dõi cân nặng của bà mẹ mang thai.

·3 tháng đầu, người mẹ phải tăng được 1kg.

·3 tháng giữa, người mẹ phải tăng được 4 - 5kg.

·3 tháng cuối, người mẹ phải tăng được 5 - 6kg.

·Trong 9 tháng mang thai, người mẹ phải tăng được trên 12kg.

Đánh giá sức khỏe trẻ em dựa vào biểu đồ tăng trưởng.